Bài thơ này

This poem

Đã được phôi thai trong rất nhiều đêm.

Was written during many a night.

Trong cơn ngủ say,

During my deep sleep

Tôi đã thấy

I saw floating

Bập bềnh trong đầu óc

In my mind

Một ngôi mộ bằng granite mầu hồng

A tomb made of pink granite

Lững lờ trôi trong không gian.

Wandering in space.

Tôi không hề sợ hãi

Without fear

Bình thản mà ngắm nhìn nấm mồ

I was lying still to watch the tomb

Nổi trôi trong đầu óc.

Drifting in my head.

Một nấm mồ mầu hồng

The pink granite tomb

Bồng bềnh trong nhiều đêm khác nhau.

Floating – night after night.

Thế rồi,

Then

Cũng trong nhiều giấc ngủ nửa đêm về sáng

Also during my midnight slumbers

Trong đầu óc đã hiện ra

In my mind loomed

Một màn đêm tối đen

A pitch-dark night

Ở phía dưới

At the bottom

Với phần xám xịt

And a dull-gray part

Ở phía trên.

On top.

Trong cái màn đêm đó,

In that pitch-dark night

Là những đốm lờ mờ

Were blurry specs

Trông giống như những que củi ngắn

Shaped like short wooden sticks                      

Lững lờ, bập bềnh trôi

Floating aimlessly

Trong khoảng trống không gian vô định.

In the immense space

Tôi không hề sợ hãi

I was not scared

Nhưng cảm nhận thấy lòng buồn vô hạn.

But overwhelmed by sadness.

Cảnh vật này

This sight

Đã theo tôi

Had followed me

Tự đêm này qua đêm khác.

Night after night. 

Thế rồi,

Then came

Lại có nhiều đêm

Many nights

Trong giấc ngủ bình thường,

In my sleep

Lúc trời sắp rạng đông.

At the break of dawn I saw

Những xác người

Human bodies

Không có đầu lâu

Without their heads

Bập bềnh trôi theo giòng nước.

Bobbing in the sea

Xót xa vô cùng

A tremendous sorrow arose in me

Giấy bút nào tả được

No words could express

Nỗi niềm xót thương này.

This gnawing pain

Những giấc mơ

Dreams like these  

Tiếp tục theo tôi

Kept recurring

Đêm này qua đêm khác.

Night after night.

Tôi chợt hiểu và nguyện cầu:

Intuitively, I understood and prayed:

“Hỡi các oan hồn mất xác lúc vượt biên,

“Pitiful spirits of freedom-seekers who perished at sea

Tôi hứa sẽ làm

I promise to you

Một điều gì đó

I shall do something

Để các vong linh vất vưởng

So that you, woeful lost souls

Có nơi trở về hội tụ

May have a place to be together

Để dương gian tưởng nhớ.”

 And remembered by the living.”

Chúng tôi đi xin miếng đất

We are acquiring a piece of land

Xây dựng tượng đài

As the site of a monument in your memory

Để tri ơn Canada và thế giới

As a token of gratitude to Canada and the world

Đã cưu mang mạng sống Thuyền Nhân.

That have saved myriad lives of boat-people.

Cho các vong linh người bị chết oan nghiệt

As a place for the wandering spirits

Có nơi hội tụ.

of those who perished at sea to meet.

Để dương gian

For the world

Cầu nguyện cho các oan hồn

To pray for their expeditious

Được vãng sinh

Ascension to the land of eternal peace

Để nhắc nhở con cháu sau này

As a reminder to our offspring

Không nên sống bạo tàn

To renounce tyranny

Cho đời sống dương gian

To bring to the world

Được an bình, êm ấm.

Peace and happiness

Hỡi Thế Giới Tâm Linh:

To the Afterworld:

Chúng tôi xin thắp nén hương lòng

Burning incense within ourselves

Cầu nguyện cho các vong linh

We pray for the lost souls

Sớm được siêu thoát.

An expeditious trip to the land of eternal peace

Cát bụi ai cũng trở về,

 

To dust everyone will return

 

Vong linh vất vưởng người đời nhớ cho.

 

Remember the wandering spirits.

 

Công bằng, bác ái, tự do

 

Equality, compassion, freedom

 

Xin người dương thế sống cho nhân hòa.

 

May the world exist in harmony.

 

Đàm Trung Phán

Mississauga, Canada

Tháng Tư/April, 2016